Trắng, đen chưa rõ
Theo Cáo trạng của VKSND tỉnh Quảng Nam, Công ty TNHH Tư vấn đầu tư phát triển kinh tế và dịch vụ thương mại tổng hợp Nguyên Ngọc (gọi tắt là Cty Nguyên Ngọc) do Trần Nguyên Quán làm Giám đốc (trụ sở tại lô A58 Phan Bội Châu, TP.Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) không có chức năng xuất khẩu lao động nhưng Quán đã “hứa hẹn và thỏa thuận miệng” với nhiều người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc để chiếm đoạt 1.099.600.000 đồng và 16.500 USD của 45 người. Quán bị VKS truy tố theo điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS (có khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình).
Ngày 28.3.2008, TAND tỉnh Quảng Nam đưa vụ án này ra xét xử sơ thẩm. Theo hồ sơ vụ án cũng như qua phần thẩm vấn và tranh tụng công khai tại tòa cho thấy Phạm Thị Thu, Giám đốc Công ty TNHH An Thương (Nghệ An), Nguyễn Trung Tuấn, Giám đốc Công ty Cổ phần TMDV Á Châu (Nghệ An), Trần Văn Liên, Trần Phú Trường, Thái Hồng Quân, Hoàng Thị Nga (đều quê Nghệ An) mới là những người trực tiếp hứa hẹn để những người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc tin và giao tiền cho họ. Tuy nhiên, cơ quan điều tra lại chưa làm rõ trách nhiệm của những người này do vậy HĐXX sơ thẩm đã phải ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung.
Phán quyết của tòa chưa thuyết phục!
Quá trình điều tra, xét xử vụ án này của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Nam có rất nhiều điều không rõ ràng. Tại phiên tòa sơ thẩm, chỉ có một bị hại duy nhất là anh Nguyễn Bá Khanh (trú tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An), còn 44 người khác đã nộp tiền chỉ được tham dự với tư cách là “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan!”? Cơ quan điều tra cũng như VKS chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Nguyên Quán (người trên thực tế chỉ nhận trách nhiệm đào tạo nghề và dạy tiếng Hàn cho người lao động theo hợp đồng đã ký với Cty An Thương của bà Thu và Cty Á Châu của ông Tuấn-PV) trong khi những người hứa hẹn và trực tiếp nhận tiền như bà Thu, ông Tuấn... lại vô can??? Sau khi điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa sơ thẩm, cơ quan điều tra và VKS vẫn cho rằng Thu, Tuấn, Liên, Trường, Quân, Nga không phải chịu trách nhiệm về hành vi nhận tiền của những người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc dù khẳng định rằng họ mới là người trực tiếp gặp gỡ người lao động, hứa hẹn và nhận tiền!
Bản án sơ thẩm số 38 ngày 7, 8.8.2008, TAND tỉnh Quảng Nam nhận định rằng việc VKS kết luận Trần Nguyên Quán lừa đảo chiếm đoạt của 44 người số tiền 1.135.500.000 đồng và 14.500 USD nhưng thông qua những người liên quan như Thu, Tuấn, Liên, Trường, Quân, Nga dưới hình thức gian dối bằng thỏa thuận miệng giữa Quán và những người liên quan là đưa người đi lao động tại Hàn Quốc là chưa có căn cứ pháp luật. HĐXX xét thấy không có chứng cứ để xét xử bị cáo Trần Nguyên Quán phạm tội lừa đảo chiếm đoạt số tiền này”.
Tuy nhiên, chỉ dựa vào lời khai của Nguyễn Bá Khanh và Nguyễn Quan Tường (cậu ruột Khanh), TAND tỉnh Quảng Nam vẫn kết luận Trần Nguyên Quán đã lừa đảo, chiếm đoạt 10 triệu đồng (của Khanh) và 2.000 USD (của Tường) và xử phạt ông Quán 24 tháng tù giam. Điều đáng nói là theo giấy biên nhận đề ngày 2.12.2005 (do ông Quán viết) nêu rõ lý do Khanh nộp số tiền 10 triệu đồng là “học phí” để đào tạo nghề, không có một dòng chữ nào cho thấy ông Quán đã “hứa hẹn” sẽ đưa Khanh đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Ông Quán cho rằng trên thực tế anh Tường chỉ đưa cho bị cáo 5, 5 triệu đồng (anh Tường có ghi rõ số tiền này trong giấy biên nhận tiền), con số 2.000 USD là do anh Tường nhờ bị cáo ghi như vậy! Ông Quán thừa nhận rằng có “sơ suất” trong việc nhận tiền một đằng nhưng lại ghi một nẻo như vậy, tuy nhiên ông khẳng định mình vô tội vì không hề lừa đảo Khanh cũng như Tường.
Vì sao án sơ thẩm bị huỷ?
Bản án sơ thẩm của TAND tỉnh Quảng Nam đã bị Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng tuyên huỷ ngày 26.3.2009. Tòa Phúc thẩm nhanh chóng nhận thấy “việc cấp sơ thẩm đã xác định nhầm tư cách tham gia tố tụng của 44 người đã nộp tiền cho bà Thu, ông Tuấn... Trong vụ án này, họ phải được xác định là “bị hại” chứ không phải là “người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan”. Việc cấp sơ thẩm xác định nhầm tư cách tố tụng là không đảm bảo quyền lợi cho họ. Bên cạnh đó, trong vụ án này, bà Thu, bà Nga và các ông Tuấn, Liên, Trường, Quân có một vai trò quan trọng. Cụ thể là bà Thu, ông Tuấn là những người trực tiếp gặp gỡ, hứa hẹn và nhận tiền từ người lao động. Sau khi thu tiền, những người này mới ký hợp đồng đào tạo nghề và dạy tiếng Hàn cho người lao động với Cty Nguyên Ngọc của ông Quán. Vì các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Nam chưa làm rõ được trách nhiệm, vài trò cũng như động cơ, mục đích của những người này có đồng phạm hay không đồng phạm với Trần Nguyên Quán về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên Tòa Phúc thẩm đã quyết định hủy án sơ thẩm để điều tra lại.
Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng nếu trong vụ án này các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Nam không làm rõ được hành vi, vai trò, trách nhiệm của những người đã trực tiếp hứa hẹn và thu tiền của người lao động thì không thể quy tội “Lừa đảo...” cho Trần Nguyên Quán khi mà ông này không trực tiếp hứa hẹn, cũng như không nhận tiền từ người lao động!
Vũ Hà