 |
| Chị Hiền (người có dấu X) và gia đình trong ngày đoàn tụ |
Thời còn trong quân ngũ ông đã từng làm thơ, viết báo nhưng từ khi cô con gái thứ tư, lúc đó đang học lớp 11 chuyên văn trường PTTH Vân Đình, ứng Hoà (Hà Nội) bị mất tích thì ông làm thơ nhiều hơn. Những bài thơ tìm con của ông đã được đăng tải trên nhiều thông tin đại chúng nhưng thông tin về con gái ông vẫn "bóng chim, tăm cá" ...Bằng linh cảm của người cha, ông biết con mình vẫn còn sống và đó là động lực để một bác bảo vệ còm nhom, ốm yếu như ông sáng tác hơn 300 bài thơ tìm con trong 13 năm. Sự mòn mỏi đợi trông của ông đã được đền đáp. Một buổi chiều cuối tháng 7.2008, bất ngờ ông gặp lại con...Cô bé lớp chuyên văn... trở thành thiếu phụ
Một buổi chiều tháng bảy nắng rát. Như thường lệ, sau ca trực, ông Nguyễn Văn Đức, cán bộ nghỉ hưu hiện đang làm bảo vệ ở UBND thị trấn Cầu Diễn, Từ Liêm (Hà Nội) lại thong thả đạp xe về nhà. Trong dòng xe hối hả ngược, xuôi, từ xa ông đã thấy trước cửa nhà mình hình như có nhiều người hơn bình thường. Một cảm giác khó tả chợt oà tới khiến ông nửa như muốn chạy nhanh về nhà lại như muốn níu chân ông lại. Lập cập nhảy khỏi chiếc xe cà tàng, ông chưa kịp định thần xem điều gì đang xảy ra trước cửa nhà mình thì một thân hình bỗng nhiên ập tới, ôm chặt lấy ông thổn thức: "bố..., bố..., con là Hiền đây". Bất ngờ, xúc động.... ông chỉ biết đứng chôn chân như trời trồng cho đến khi có một bàn tay khẽ ẩy vào vai: "ơ cái ông này, con nó tìm được về tới đây phải đưa vào nhà đi chứ ", làm ông choàng tỉnh. Đến lúc này ông mới có dịp nhìn ngắm người con gái đang ôm mình. Đúng là con Hiền thật rồi, có điều nó đã là một phụ nữ trưởng thành chứ không còm cõi như ngày mất tích nhưng trên khuôn mặt nhạt nhoà nước mắt, ông vẫn tìm ra những nét thân thương của ngày xa xưa.
...Ngày Hiền bị lạc rồi mất tích, ông còn nhớ như in. Đó là ngày 14.9.1995, ông từ ứng Hoà ra xí nghiệp Z191, đơn vị cũ ở thị trấn Cầu Diễn, Từ Liêm để lĩnh lương hưu. Khi ông quay về nhà, thấy ông chỉ đi có một mình, vợ ông tỏ vẻ ngạc nhiên: "con Hiền cũng ra Cầu Diễn tìm ông mà sao hai bố con không về cùng nhau? ". Linh tính có chuyện chẳng lành xảy ra với con gái mình, ông vội vàng quay trở lại đơn vị cũ, nhưng kể từ đó, dù ông đã mất bao công sức cùng người nhà đi khắp nơi tìm kiếm nhưng tất cả chỉ là vô vọng. Đứa con gái có năng khiếu văn thơ ngay từ nhỏ, niềm hy vọng nối nghiệp văn thơ của bố đã biệt vô âm tín. Đau đớn, tuyệt vọng, ông trở về nhà mới hay Hiền ra Hà Nội tìm bố vì khoản tiền xây dựng đóng góp cho trường.
Nói đến đây, ông Đức ấm ức: "mặc dù gặp lại con, biết được cuộc sống hiện tại của con rồi nhưng cứ nghĩ đến ngày con tôi bị bắt về lấy tiền đóng góp khiến cháu đi tìm bố rồi mất tích, tôi vẫn giận lắm". Theo lời ông Đức thì ngày đó, ngoài Hiền đang học lớp 11 còn Tùng, cậu em trai giáp Hiền vừa mới vào lớp 10. Nhà nghèo, mọi chi tiêu trông cả vào đôi quang gánh của vợ vì đồng lương hưu của ông hạn hẹp nên ngay một lúc ông không thể lo đủ tiền đóng góp đầu năm học cho 2 con. Khi thấy bố mẹ dồn mãi mới đủ một suất tiền đóng học, Hiền đã nhường em suất tiền đóng học trước còn mình chịu để thầy giáo chì chiết vì chậm trễ. Cho đến khi bị thầy giáo bắt về nhà lấy tiền, Hiền đành phải ra Hà Nội tìm bố và chuyến đi tìm bố với ý định lấy tiền đóng học phí đầu năm đã làm thay đổi hoàn toàn số phận của một cô bé lớp 11 chuyên văn.
Và những vần thơ tìm con
Đến UBND thị trấn Cầu Diễn hỏi thăm nhà thơ Việt Hồng, chẳng ai biết đó là bút danh của bác bảo vệ tên Đức cho tới khi thấy ông có mặt trong cuốn kỷ yếu của Hội Nhà văn, nhà thơ thành phố Hà Nội. Từ ngày còn trong quân ngũ, ông Đức đã yêu thơ và những bài thơ ra đời trong khói lửa chiến tranh như "Hoa Găng", "Lửa hàn lên chốt", "Vầng trăng của tôi", "Hoa muống", "Bạn của tôi quân hàm thiếu tá", ...của ông được nhiều người biết đến khi đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội. Trải qua nhiều trận đánh nhau với địch ở Quảng Nam, năm 1968, sau lần bị thương do sức ép bom B52, ông Đức được chuyển về trường văn hoá quân đội tham gia lớp quản lý kinh tế sau đó về xí nghiệp Z119 thuộc Cục Công nghiệp quốc phòng công tác với chức danh trưởng phòng hành chính hậu cần. Cuối năm 1988, ông Đức nghỉ hưu và chuyển về quê ở Dương Khê, Phương Tú, ứng Hoà sống cùng với gia đình cho mãi đến năm 2000 mới chuyển ra Cầu Diễn sống cùng con trai.
Nói về động cơ thôi thúc mình làm thơ, ông tâm sự: "Ngày đó chuyện lừa người ra nước ngoài bán đâu có nhiều như bây giờ. Tôi chỉ nghĩ con mình bị lạc nên làm thơ đăng báo chỉ với mục đích là mong sao con Hiền đọc được mà tìm về với bố, không ngờ 13 năm cứ thế trôi qua". Theo lời ông Đức thì mãi tới khi gặp lại con, ông mới hay Hiền bị lừa bán sang Trung Quốc.
... Hôm đó, sau khi ở trường về, Hiền chạy ra chợ hỏi xin mẹ tiền đóng học thì mẹ bảo Hiền xin khất thầy giáo vài bữa vì sáng nay bố đã ra Hà Nội lấy lương. Trở về nhà, thấy có mấy người trong làng cũng ra Hà Nội, Hiền liền xin đi theo. Đến Cầu Giấy, vì đã vài lần được bố cho ra cơ quan, thăm hai anh chị lớn làm việc nên khi những người đi cùng hỏi có biết đường đến Cầu Diễn không thì Hiền bảo đi được. Họ chia tay nhau từ đấy, Hiền xuống xe còn những người khác tiếp tục đi lên Yên Bái. Khi Hiền đi được một đoạn thì có một phụ nữ bụng mang dạ chửa từ trong ngõ chạy ra nhờ dỗ hộ đứa bé lúc đó đang lăn lộn khóc dưới đất. Chẳng nề hà, Hiền liền bồng đứa bé lên tay dỗ dành một lúc và được người phụ nữ trả ơn bằng cốc nước cam. 16 tuổi ngây thơ, trong trắng, Hiền đâu ngờ đó là bẫy của bọn buôn người. Sau khi uống hết cốc nước cam, Hiền mê man cho đến lúc tỉnh dậy thấy xung quanh nhốn nháo toàn người lạ. Một người đàn ông khoảng 40 tuổi ra ám hiệu cho biết Hiền đã bị bán và phải làm vợ anh ta nếu không sẽ bị đánh, bị bỏ đói. Từ đó Hiền bị nhốt trong phòng kín, mọi sinh hoạt đều có người giám sát đến khi sinh được 2 đứa con trai mới được một mình ra chợ. Đến lúc này cô mới biết mình đang sống ở một vùng rừng núi thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Thấy Hiền ngoan ngoãn, học tiếng địa phương nhanh và không có ý định bỏ trốn, sau gần chục năm chung sống, chồng Hiền đã tin tưởng, xin cho cô vào làm công nhân tại một nhà máy may, cách nhà 600 cây số. Được đi làm, có tiền dành dụm được, Hiền gọi điện về quê và biết được nơi sống hiện tại của bố mẹ. Nhân đợt được nhà máy cho nghỉ phép năm 2008, cô đã xin phép gia đình chồng đưa 2 con về Việt Nam thăm cha mẹ và vừa rồi đã quay trở lại Trung Quốc.
Vừa đi làm bảo vệ để có thêm thu nhập, ông Đức vừa làm thơ như gửi gắm nỗi lòng thương nhớ con vào trong trang viết. Bài thơ: "Nỗi nhớ tìm con" là một trong số những bài thơ ông viết đăng báo tìm con ra đời trong thời điểm đó. Có làm bố, làm mẹ mới hiểu ông đã phải đau khổ thế nào mới viết được những câu:
"Bố mẹ đi khắp thành Hà Nội;
Tìm con đáy bể mò kim;
Đã hai tuần không thấy một tin;
Ngồi nghiêng ngả bữa ăn thừa bát đũa…"
hay:
"Anh chị con cuộc sống gặp khó khăn
Ngày làm việc tối đi tìm con đấy
Con bị lạc giữa ngã tư Cầu Giấy
Bốn cây số thôi là con đến nhà mình"
Thu Trinh |