 |
| Phương tiện vào Đại Bình chủ yếu là đò ngang |
Nhìn vẻ bên ngoài, Đại Bình, (thuộc xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam) cũng như bao làng quê Việt. Nhưng càng đi sâu tìm hiểu thì mới ngộ ra, làng quê này có biết bao điều kỳ lạ...Ngược miền huyền sử
"Đại đối cao sơn hoành hổ cứ
Bình liên thu thủy phụng long văn"
Hai câu đối trên như một nét chấm phá về địa thế và văn vật của làng Đại Bình. Tạm hiểu: Hình thể của Đại Bình phía trên (sau lưng của làng) là dãy núi hùng vĩ nơi có chứa hang cọp, dưới đất tiếp sông Thu Bồn là nơi có đầm rồng ở, hổ báo trú ngụ. ý nói sâu xa, Đại Bình là đất "long đàm hổ huyệt" - văn có, võ cũng phi thường.
Theo cụ Nguyễn Quốc Tín (thường gọi cụ Bảy Tín, 86 tuổi) - một trong những lão niên hiểu biết nhất về văn hóa làng Đại Bình: Làng này được thành lập từ niên hiệu Thái Đức thứ 3, cách đây gần 300 năm. Cụ tiền hiền, khai canh là cụ Nguyễn Công Chí. Địa thế của làng cực kỳ hiểm trở: Phía sau là lưng núi cao vời vợi, phía trước làng bao quanh bởi con sông Thu Bồn huyền sử. Làng nằm lọt thỏm giữa khu vực bán đảo, nên thường phải "gánh" những trận lụt lịch sử. Sau mỗi trận lũ, đất làng lại được bồi thêm màu mỡ, phì nhiêu...
"Miệt vườn miền Tây" trên miền sơn cước
Cách mỏ than Nông Sơn chừng 10km, làng Đại Bình nằm phía thượng nguồn sông Thu Bồn, cao 500-700m so với mực nước biển. Khí hậu và thổ nhưỡng của Đại Bình tạo nên nét "đặc địa khí" hiếm có nơi miền sơn cước nắng cháy da mồi. Hàng trăm năm trước, các bậc lão niên thấy được khí thế của làng mình nên đã mò mẫm, lặn lội về đất phương Nam để đưa kinh tế vườn về làng, tạo nên những sản vật có thương hiệu riêng biệt trên dải đất duyên hải.
Người đầu tiên "mở cõi miệt vườn" cho vùng đất này là cụ Huỳnh Châu. Nghe người làng kể lại, cách đây trên 150 năm, cụ Châu đã bách bộ và lội sông cả năm trời vào miền Tây. Thời bấy giờ, không rõ vì lý do gì mà cụ am tường nơi miền Tây trái ngọt sai cành, am tường về khí hậu, thổ nhưỡng vùng đất Đại Bình hợp với miền Tây để mang miệt vườn về với quê mình? Những giống sầu riêng, tre ăn măng, trái dứa, các giống lúa miền Tây... về Đại Bình tuy vật vã trong thời gian đầu do khí hậu, thổ nhưỡng, kinh nghiệm, nhưng dần dà đã lên nhanh và xanh, trái ngọt sai cành. Cụ Huỳnh Châu được dân làng phong là người có đầu óc tiến bộ nhất, người mở cõi kinh tế không chỉ của làng Đại Bình thời bấy giờ. Các giống cây của cụ Châu, thương hiệu của làng Đại Bình sau đó lan tỏa ra nhiều làng, xã, huyện, tỉnh lân cận có khí hậu và thổ nhưỡng tương tự.
Thành lệ, người làng Đại Bình ai có chút phong lưu, hiểu biết cũng noi gương cụ Huỳnh Châu về với miền Tây, Đà Lạt, thậm chí sang Thái Lan để tìm những sản vật nơi đất khách về với đất mình, khiến vườn tược nhà ai cũng trĩu cành sai quả. Hàng chục năm trước đây, cụ Bảy Tín cũng phiêu bồng nơi miền Tây quả ngọt để đưa về những giống cây hiếm có, như măng cụt, cau lùn, chuối bom... góp thêm cho miệt vườn Đại Bình sum suê. Theo cụ Bảy Tín, đất Đại Bình cây gì cũng trồng được trừ một số cây như nho, hồng Đà Lạt. Đó là nhờ khí hậu và phù sa, đất đai tốt lành, thiên nhiên hiền dịu.
Làng đại thọ và có nhiều cử nhân
Chỉ trong ngôi làng nhỏ với khoảng 300 hộ dân mà có đến... 215 người là hội viên Hội người cao tuổi, 70 người trên 80 tuổi, 40 người trên 85 tuổi, gần 10 người trên 95 tuổi. Có một số cụ từng sống hơn 100 tuổi. Đó là điều hiếm thấy.
Đến thăm cụ Nguyễn Thị Nhân 98 tuổiÀ, nhìn vẻ khoẻ khoắn trên gương mặt cụ, chúng tôi hiểu người làng có sức sống mãnh liệt như thế nào. Cụ Nhân tuổi cận kề bách niên, tuy hơi nặng tai nhưng cụ nói năng lưu loát, kể chuyện xửa, chuyện xưa cho cháu con chẳng thiếu chi tiết nào. Cụ ông Ngô Sự - chồng cụ vừa qua đời cách đây 2 năm cũng là người đại thọ của làng: 101 tuổi. 2 vợ chồng cụ Nhân có 3 người con (2 người mất lúc nhỏ) chỉ còn bà Ngô Thị Sỹ năm nay sắp bước qua tuổi 70, nuôi mẹ. Cụ Nhân đã từng ấy tuổi nhưng mọi sinh hoạt vẫn tự mình làm hết. Hỏi cụ bí quyết nào cụ sống thọ vậy, cụ cười hiền: "Có chi đâu, tui lao động, ăn uống bình thường và tinh thần thoải mái thôi". Ngoài ra, các cụ trên 97 tuổi của làng còn sống khỏe, như cụ Ngô Xuân Tâm, cụ Nguyễn Tuyên, cụ Hứa, cụ Lê Thị Mưa đều ở tuổi 97 - 98.
Theo cụ Bảy Tín và ông Nguyễn Lạng (y sĩ, cán bộ dân số của làng): Người dân Đại Bình sống thọ là nhờ nguồn nước trong lành, khí hậu hiền hòa, rau quả xanh sạch. "Người làng ăn rau quả quanh năm. Rau quả của làng tuyệt đối không có một giọt hoá chất" - ông Lạng khẳng định.
Xưa kia, cụ Huỳnh Châu không chỉ là người tiên phong mở cõi kinh tế của làng mà còn là người quan tâm đến phát triển tri thức. Dù cuộc sống thời bấy giờ gian nan, nhưng cụ Châu vẫn cho các con theo học. ông Huỳnh Kháng là người được học rộng, hiểu biết nhất làng, sau trở thành thày giáo. Hiện nay, làng quê nghèo ẩn tích này có tới 5 tiến sĩ, trong đó phải kể đến Tiến sĩ Y khoa Nguyễn Hai, hiện đang công tác tại Mỹ; Tiến sĩ Hứa Văn Phúc, công tác tại Viện Thủy sản Nha Trang đang du học tại Nhật... Ngoài ra, làng có 9 thạc sĩ và 106 người đã, đang học đại học. Cuộc sống khó khăn nên người làng Đại Bình lấy việc học làm "phương châm hành động". Các thế hệ noi gương nhau, góp sức xây dựng cho quê hương, đất nước. Trong mỗi tộc họ đều có hội khuyến học, có những chính sách khuyến khích con em theo học, thành tài.
Làng sống chung với lũ
Nói về chuyện lũ lụt, với mỗi làng quê miền Trung đâu đâu cũng cảm thấy sợ hãi, thảng thốt. Nhưng với người dân làng Đại Bình thì lâu nay, họ xem đó là chuyện thường. Dường như người làng Đại Bình có "linh" với lũ nên mỗi khi có hiện tượng lũ về, nhà nhà kéo nhau lên núi, đồ đạc được cất giữ kỹ càng. Nếu không có cơn "thủy biến" rùng rợn năm Thìn (1964) thì làng được coi là nơi chưa bao giờ có người chết vì lũ lụt tuy sống chung với lũ.
Theo các cụ trong làng thì cơn lũ năm Thìn là một cơn lũ quét thật kinh hoàng. ông Nguyễn Lạng, một trong những người may mắn sống sót trong cơn lũ có một không hai trong lịch sử này nhờ leo lên cây mít 2 ngày 2 đêm nhớ lại: "Lúc ấy, sau khi đưa được một số người lên núi thì nước dâng quá nhanh, tui đành leo lên cây mít cổ thụ. Nỗi kinh hoàng ập đến khi trên núi (nơi người làng ẩn trú mỗi khi lũ về) cũng bị cơn lũ quét tràn qua, kéo theo hàng trăm người làng xuống sông Thu Bồn. Đại Bình năm ấy trở thành nhân chứng, nơi cuối điểm "chết" của cơn lũ hung tàn, làm chết tới vài ngàn người tại các khu vực cơn lũ đi qua. Đến nay, đó là lần duy nhất làng Đại Bình có người chết vì lũ.
Ông Nguyễn Kim Dũng, Chủ tịch xã Quế Trung tiết lộ thêm vài chi tiết về ngôi làng độc nhất vô nhị. Điều lạ là thời chiến tranh, phía bên này Trung Phước, Quế Lộc... bị bom đạn tàn phá dữ dội mà làng Đại Bình lại không hề hấn gì. Suốt cả thời chiến tranh khốc liệt, bom đạn vẫn không đặt chân đến Đại Bình. Nhiều người cho rằng do vị trí địa lý khá độc đáo, biệt lập: ba bề là núi, phía trước là sông. "Kể chuyện về Đại Bình thì còn dài lắm, đó là những giai thoại của bao bậc anh tài, là thôn văn hoá cấp tỉnh hay làng không có tiếng xe máy. ước mơ của người dân nơi đây là Đại Bình có một cây cầu, là điểm du lịch sinh thái, có công trình thủy lợi để không chỉ sống "nhờ trời" như bây giờ và xây lại đình làng bị cơn lũ năm Thìn cuốn trôi" - ông Dũng nói.
Ghi chép của Hoài Quảng |